HomeTIN TỨCTHỊ TRƯỜNG
Datetime: 22 02 2021
Cục Xuất nhập khẩu cho rằng thời gian tới, xuất khẩu cao su sẽ khó tăng mạnh do dịch COVID-19 bùng phát mạnh trở lại, các cảng biển hoạt động khó khăn khi tình trạng thiếu container khá trầm trọng.

Theo Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) ước tính, xuất khẩu cao su của Việt Nam trong tháng 1/2021 đạt 200.000 tấn, trị giá 321 triệu USD, giảm 11,6% về lượng và giảm 11% về trị giá so với tháng 12/2020.

Đáng chú ý, so với tháng 1/2020 tăng 119,7% về lượng và tăng gần 142% về trị giá, giá xuất khẩu bình quân tăng 0,7% so với tháng 12/2020 và tăng hơn 10% so với tháng 1/2020 lên mức 1.605 USD/tấn.

Cũng theo Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) năm 2020, xuất khẩu cao su ước đạt 1,75 triệu tấn, trị giá 2,38 tỷ USD, tăng 2,8% về lượng và tăng 3,5% về trị giá so với năm 2019, giá xuất khẩu bình quân ở mức 1.362 USD/tấn, tăng 0,7% so với năm 2019.

Theo tính toán từ số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam, trong năm 2020, hỗn hợp cao su tự nhiên và cao su tổng hợp (Mã HS 400280) là mặt hàng được xuất khẩu nhiều nhất, chiếm 65,47% tổng lượng cao su xuất khẩu của cả nước, với 1,14 triệu tấn, trị giá 1,56 tỷ USD, tăng 23,6% về lượng và tăng 24,5% về trị giá so với năm 2019.

Trong đó, xuất khẩu sang Trung Quốc chiếm 99,12% tổng lượng hỗn hợp cao su tự nhiên và cao su tổng hợp xuất khẩu của cả nước, với 1,13 triệu tấn, trị giá 1,55 tỷ USD, tăng 23,7% về lượng và tăng 24,7% về trị giá so với năm 2019.

Trong năm 2020, phần lớn xuất khẩu các chủng loại cao su đều sụt giảm so với năm 2019, trừ một số mặt hàng đạt được sự tăng trưởng như: cao su dạng Crếp, Latex, cao su tái sinh, SVR CV40, Skim block.

Về giá xuất khẩu, năm 2020, giá xuất khẩu bình quân phần lớn các chủng loại cao su đều có xu hướng tăng so với năm 2019, trừ một số chủng loại có giá xuất khẩu trung bình giảm như: SVR 10, SVR 20, cao su tổng hợp, cao su dạng Crếp.

Cục Xuất nhập khẩu cho rằng thời gian tới, xuất khẩu cao su sẽ khó tăng mạnh do dịch COVID-19 bùng phát mạnh trở lại, các cảng biển hoạt động khó khăn khi tình trạng thiếu container khá trầm trọng. Trong khi, nhu cầu cao su Trung Quốc đứng trước nguy cơ sụt giảm do dịch COVID-19.

ST

Datetime: 19 02 2021
cuoc chien thuong mai khien nganh cao su thai lan roi vao khung hoang
Người lao động phân loại tấm cao su thô tại một nhà máy tại tỉnh Rayong, Thái Lan. Ảnh: AGENCE FRANCE-PRESSE

Năm 2020, xuất khẩu cao su tổng hợp (mã HS 4002) của Thái Lan đạt 1,78 triệu tấn, trị giá 75,55 tỷ Baht, tương đương 2,51 tỷ USD, tăng 18,8% về lượng và tăng gần 13% về trị giá so với năm 2019, chủ yếu xuất khẩu sang các thị trường Trung Quốc, Malaysia, Việt Nam, Nhật Bản và Mỹ.

Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) dẫn số liệu thống kê của Cơ quan Hải quan Thái Lan cho biết năm 2020, Thái Lan xuất khẩu được 4,6 triệu tấn cao su (mã HS: 4001; 4002; 4003; 4005), trị giá 192,5 tỷ Baht, tương đương 6,41 tỷ USD, giảm 4,4% về lượng và giảm 5,6% về trị giá so với năm 2019.

Trong đó, xuất khẩu cao su sang Trung Quốc chiếm 58,38% tổng lượng cao su xuất khẩu của Thái Lan trong năm 2020 với 2,68 triệu tấn, trị giá 109,51 tỷ Baht, tương đương với 3,65 tỷ USD, tăng 2,5% về lượng, nhưng giảm 0,1% về trị giá so với năm 2019.

Về cơ cấu chủng loại xuất khẩu, trong năm 2020, Thái Lan xuất khẩu được 2,66 triệu tấn cao su tự nhiên (mã HS 4001), trị giá 108,91 tỷ Baht, tương đương 3,63 tỷ USD, giảm 15,4% về lượng và giảm 15,2% về trị giá so với năm 2019, chủ yếu xuất khẩu sang Trung Quốc, Malaysia, Nhật Bản, Mỹ và Hàn Quốc.

Trong đó, xuất khẩu sang Trung Quốc chiếm 36,73% tổng lượng cao su tự nhiên xuất khẩu của Thái Lan trong năm 2020 với 978.490 tấn, trị giá 39,61 tỷ Baht, tương đương 1,32 tỷ USD, giảm gần 20% về lượng và giảm 21% về trị giá so với năm 2019.

Cơ cấu thị trường xuất khẩu cao su tự nhiên của Thái Lan trong năm 2020 có sự thay đổi khi tỷ trọng xuất khẩu sang các thị trường lớn là Malaysia và Hàn Quốc tăng, trong khi tỷ trọng xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ lại giảm.

Cơ cấu 5 thị trường tiêu thụ cao su tự nhiên (mã HS 4001) lớn nhất của Thái Lan (tỷ trọng tính theo lượng). Nguồn: Tính toán từ số liệu thống kê của Cơ quan Hải quan Thái Lan/Bộ Công Thương.

Trong năm 2020, xuất khẩu cao su tổng hợp (mã HS 4002) của Thái Lan đạt 1,78 triệu tấn, trị giá 75,55 tỷ Baht, tương đương 2,51 tỷ USD, tăng 18,8% về lượng và tăng gần 13% về trị giá so với năm 2019, chủ yếu xuất khẩu sang các thị trường Trung Quốc, Malaysia, Việt Nam, Nhật Bản và Mỹ.

Trong đó, xuất khẩu sang Trung Quốc lớn nhất chiếm 91,03% tổng lượng cao su tổng hợp xuất khẩu của Thái Lan trong năm 2020, với 1,62 triệu tấn, trị giá 67,4 tỷ Baht, tương đương 2,51 tỷ USD, tăng gần 24% về lượng và tăng 18,7% về trị giá so với năm 2019.

Cơ cấu thị trường xuất khẩu cao su tổng hợp của Thái Lan trong năm 2020 có sự thay đổi khi tỷ trọng xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản, Malaysia, Mỹ và Việt Nam giảm, trong khi tỷ trọng xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc lại tăng mạnh.

T.Anh

Theo: Thương hiệu & Sản phẩm

Datetime: 18 02 2021
Thu hoạch mủ cao su tại miền Đông Nam bộ (Việt Nam)

Theo báo cáo mới nhất của Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho biết, đầu tháng 2/2021, giá cao su tại các sàn giao dịch chủ chốt đã tăng trở lại.

Cụ thể, tại Sở giao dịch hàng hóa Osaka Exchange (OSE), ngày 5/2, giá cao su RSS3 giao kỳ hạn tháng 3/2021 giao dịch ở mức 246,4 Yên/kg, tương đương 2,33 USD/kg, tăng 0,7% so với cuối tháng 1/2021 và tăng 49,3% so với cùng kỳ năm 2020.

Tại Sàn giao dịch hàng hóa tương lai Thượng Hải (SHFE), ngày 5/2 giá cao su RSS3 giao kỳ hạn tháng 3/2021 ở mức 14.655 NDT/tấn, tương đương 2,26 USD/kg, tăng 2,4% so với cuối tháng 1/2021 và tăng 32,3% so với cùng kỳ năm 2020.

Tại Thái Lan, ngày 5/2, giá cao su RSS3 chào bán ở mức 59,9 Baht/kg, tương đương 1,99 USD/kg, tăng 1,8% so với cuối tháng 1/2021 và tăng 15,5% so với cùng kỳ năm 2020.

Theo Cục Xuất nhập khẩu giá cao su tăng do nhu cầu tại Mỹ hồi phục khi các nhà đầu tư kỳ vọng vào gói kích thích kinh tế mới sẽ giúp nền kinh tế hồi phục; thị trường cũng được hỗ trợ bởi nhu cầu mủ tự nhiên của các nhà máy tăng mạnh do nhu cầu sử dụng thiết bị y tế tăng cao trong đại dịch.

Tại thị trường Việt Nam, từ đầu tháng 2/2021 đến nay, giá mủ cao su nguyên liệu trên cả nước không có biến động so với cuối tháng 1/2021.

Ngày 5/2, giá thu mua mủ nước của Công ty TNHH MTV Cao su Phú Riềng được giữ ở mức 335 đồng/TSC, ổn định so với cuối tháng 1/2021; giá thu mua mủ tạp ở mức 250 đồng/TSC, ổn định so với cuối tháng 1/2021.

Đức Thiện

Theo: Thương hiệu & Sản phẩm