HomeTIN TỨCTHỊ TRƯỜNG
Datetime: 10 07 2019

 

 

 

 

– Tháng 6/2019, giá cao su tăng tại Sở giao dịch hàng hóa TOCOM và Thái Lan, giảm tại Thượng Hải.

– Giá mủ cao su tại thị trường trong nước giảm.

– Tháng 5/2019, xuất khẩu cao su SVR 10 tăng mạnh.

– Thị phần cao su Việt Nam trong tổng nhập khẩu của Trung Quốc tăng.

1. Thị trường thế giới

Trong tháng 6/2019, giá cao su trên thị trường thế giới biến động không đồng nhất, cụ thể:

+ Tại Sở giao dịch hàng hóa Tokyo (TOCOM), tháng 6/2019 giá cao su giao kỳ hạn tháng 7/2019 có xu hướng tăng mạnh so với cuối tháng 5/2019. Chốt phiên giao dịch ngày 28/6/2019, giá cao su giao kỳ hạn tháng 7/2019 ở mức 234,5 Yên/kg (tương đương 2,18 USD/kg), tăng 8,6% so với cuối tháng 5/2019.

Bản tin thị trường cao su đến ngày 01/7/2019

+ Tại Thượng Hải, tháng 6/2019 giá cao su kỳ hạn giao tháng 7/2019 sau khi tăng lên 12.210 NDT/tấn vào ngày 11/6/2019 đã giảm trở lại. Chốt phiên giao dịch ngày 28/6/2019, giá cao su kỳ hạn giao tháng 7/2019 giao dịch ở mức 11.245 NDT/tấn (tương đương 1,64 USD/tấn), giảm 7% so với cuối tháng 5/2019.

Bản tin thị trường cao su đến ngày 01/7/2019

+ Tại Thái Lan, tháng 6/2019, giá cao su RSS3 có xu hướng tăng mạnh so với cuối tháng 5/2019. Ngày 28/6/2019 giá cao su RSS 3 chào bán ở mức 61,6 Baht/kg (tương đương 2,00 USD/kg), tăng 6,1% so với cuối tháng 5/2019.

Bản tin thị trường cao su đến ngày 01/7/2019

Tháng 6/2019, giá cao su trên thị trường TOCOM và Thái Lan tăng do: (i) sản lượng cao su toàn cầu giảm; (ii) 3 nước sản xuất cao su lớn nhất thế giới cắt giảm xuất khẩu theo thỏa thuận; (iii) nhu cầu tiêu thụ cao su tự nhiên tăng; (iv) đồng Yên có xu hướng giảm giá so với đồng USD.

– Theo Hiệp hội sản xuất cao su tự nhiên (ANRPC), trong 4 tháng đầu năm 2019, sản lượng cao su tự nhiên toàn cầu đạt 3,95 triệu tấn, giảm 5,1% so với cùng kỳ năm 2018; trong khi tiêu thụ cao su tự nhiên tăng 1%, lên 4,591 triệu tấn.

– Thái Lan: Theo Cơ quan Hải quan Thái Lan, tháng 5/2019, xuất khẩu cao su của Thái Lan đạt 379,64 nghìn tấn, trị giá 17,25 tỷ Baht (tương đương 562,14 triệu USD), giảm 15,8% về lượng và giảm 16% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó, Trung Quốc, Ma-lai-xi-a và Hoa Kỳ là 3 thị trường xuất khẩu cao su chính của Thái Lan. Trong tháng 5/2019, xuất khẩu cao su của Thái Lan sang Trung Quốc đạt 198,74 nghìn tấn, trị giá 8,89 tỷ Baht (tương đương 289,73 triệu USD), giảm 28,1% về lượng và giảm 30,2% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018, chiếm 52,4% tổng lượng cao su xuất khẩu của Thái Lan, giảm mạnh so với mức 61,4% của cùng kỳ năm 2018. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu cao su của Thái Lan đạt 2,12 triệu tấn, trị giá 89,39 tỷ Baht (tương đương 2,91 tỷ USD), giảm 5,4% về lượng và giảm 12% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó, xuất khẩu sang Trung Quốc đạt 1,11 triệu tấn, trị giá 46,29 tỷ Baht (tương đương với 1,51 tỷ USD), giảm 12,5% về lượng và giảm 20,1% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

Trong 5 tháng đầu năm 2019, lượng cao su tự nhiên (mã HS: 4001) xuất khẩu của Thái Lan đạt 1,37 triệu tấn, giảm 8,2% so với cùng kỳ năm 2018. Trung Quốc, Ma-lai-xi-a và Hoa Kỳ là 3 thị trường xuất khẩu cao su lớn nhất của Thái Lan. Trong đó, xuất khẩu cao su của Thái Lan sang Trung Quốc 5 tháng đầu năm 2019 đạt 488,77 nghìn tấn, giảm 21,4% so với cùng kỳ năm 2018, chiếm 35,5% tổng lượng cao su tự nhiên xuất khẩu của Thái Lan.

Trong 5 tháng đầu năm 2019, lượng cao su tổng hợp (mã HS: 4002) xuất khẩu của Thái Lan đạt 673,88 nghìn tấn, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó lượng cao su tổng hợp xuất khẩu sang Trung Quốc chiếm 87%, đạt 589,37 nghìn tấn, tăng 0,9% so với cùng kỳ năm 2018.

Xuất khẩu cao su tái sinh (mã HS:4003) của Thái Lan trong 5 tháng đầu năm 2019 đạt 23,09 nghìn tấn, tăng 86,8% so với cùng kỳ năm 2018. Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ và Úc là thị trường xuất khẩu cao su tái sinh chủ yếu của Thái Lan. Trong đó xuất khẩu sang Trung Quốc đạt 22,15 nghìn tấn, tăng 84,3% so với cùng kỳ năm 2018, chiếm 95,9% lượng cao su tái sinh xuất khẩu của Thái Lan trong kỳ.

Bản tin thị trường cao su đến ngày 01/7/2019

2. Thị trường trong nước

Tháng 6/2019, giá mủ cao su nguyên liệu trong nước sau khi tăng trong 20 ngày đầu tháng đã giảm trở lại trong 10 ngày cuối tháng. Ngày 28/6/2019, tại Đắk Lắk giá thu mua mủ cao su nước tại vườn và nhà máy đạt lần lượt 270 đ/độ TSC và 275 đ/độ TSC, giảm 10 đ/độ TSC so với cuối tháng 5/2019.

Kể từ ngày 18/6/2019 đến cuối tháng, Công ty TNHH MTV cao su Lộc Ninh điều chỉnh giảm giá thu mua mủ cao su 4 lần, cụ thể:

Bản tin thị trường cao su đến ngày 01/7/2019

3. Tình hình xuất khẩu cao su của Việt Nam

Theo ước tính, xuất khẩu cao su trong tháng 6/2019 đạt 110 nghìn tấn, trị giá 155 triệu USD, tăng 42% về lượng và tăng 38,7% về trị giá so với tháng 5/2019, giảm 9,9% về lượng và giảm 10,6% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018; giá xuất khẩu bình quân giảm 0,67% so với cùng kỳ năm 2018, xuống còn 1.409 USD/tấn. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu cao su ước đạt 602 nghìn tấn, trị giá 822 triệu USD, tăng 6,6% về lượng và tăng 0,3% về giá trị so với cùng kỳ năm 2018; giá xuất khẩu bình quân giảm 6% so với cùng kỳ năm 2018, xuống còn 1.367 USD/tấn.

Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, trong tháng 5/2019, xuất khẩu cao su SVR 10 tăng mạnh, trở thành chủng loại cao su có trị giá xuất khẩu đạt cao nhất, tăng 306,7% về lượng và tăng 297,3% về trị giá so với tháng 4/2019, đạt 25,61 nghìn tấn, trị giá 36,6 triệu USD, tăng 56,7% về lượng và tăng 59,1% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

Tháng 5/2019, xuất khẩu cao su tổng hợp giảm 59,2% về lượng và trị giá so với tháng 5/2018, đạt 23.731 tấn, trị giá 34,13 triệu USD. Tuy nhiên, tính chung 5 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu cao su tổng hợp vẫn tăng 15,2% về lượng và tăng 7,6% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018, đạt 255,89 nghìn tấn, trị giá 346,15 triệu USD.

Các chủng loại cao su có lượng và trị giá xuất khẩu lớn tiếp theo trong tháng 5/2019 gồm: SVR 3L, SVR CV60, Latex…

Bản tin thị trường cao su đến ngày 01/7/2019

Về giá xuất khẩu: Tháng 5/2019, giá xuất khẩu nhiều chủng loại cao su tiếp tục giảm so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó, cao su tái sinh có giá xuất khẩu bình quân giảm mạnh nhất, giảm 53,2%; SVR CV60 giảm 3,6%; giá cao su SVR 20 giảm 6%; SVR 3L giảm 1,5%; SVR CV50 giảm 2%…

Bản tin thị trường cao su đến ngày 01/7/2019

4. Thị phần cao su của Việt Nam tại Trung Quốc

Theo số liệu thống kê của Trung tâm Thương mại Quốc tế (ITC), trong tháng 4/2019, Trung Quốc nhập khẩu 576 nghìn tấn cao su, trị giá 900,1 triệu USD, tăng 29,5% về lượng và tăng 18% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018; Lũy kế 4 tháng đầu năm 2019, Trung Quốc nhập khẩu 2,19 triệu tấn cao su, trị giá 3,31 tỷ USD, tăng 2,5% về lượng, nhưng giảm 8% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

Trong đó, Thái Lan, Việt Nam và Ma-lai-xi-a là 3 thị trường cung cấp cao su chính cho Trung Quốc. Tháng 4/2019, Trung Quốc tiếp tục tăng nhập khẩu cao su từ Việt Nam, đạt 63,2 nghìn tấn, trị giá 86,81 triệu USD, tăng 66,2% về lượng và tăng 48,7% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2019, Trung Quốc nhập khẩu từ Việt Nam 306 nghìn tấn cao su, trị giá 397,04 triệu USD, tăng 43,2% về lượng và tăng 24,6% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018. Thị phần cao su Việt Nam trong tổng nhập khẩu của Trung Quốc 4 tháng đầu năm 2019 tăng lên lên 13,9% so với mức 10% trong 4 tháng đầu năm 2018.

Bản tin thị trường cao su đến ngày 01/7/2019

Về cơ cấu mặt hàng cao su nhập khẩu:

Trong 4 tháng đầu năm 2019, nhập khẩu cao su tự nhiên (mã HS: 4001), của Trung Quốc đạt 655,07 nghìn tấn, trị giá 828,94 triệu USD, giảm 9,1% về lượng và giảm 19,3% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018. Trung Quốc nhập khẩu mặt hàng cao su tự nhiên chủ yếu từ các thị trường như: Thái Lan, Ma-lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a, Bờ Biển Ngà và Việt Nam. Trong đó, Việt Nam là thị trường cung cấp mặt hàng cao su tự nhiên lớn thứ 5 cho Trung Quốc, nhưng chỉ chiếm 5,3% thị phần trong tổng lượng cao su tự nhiên nhập khẩu của Trung Quốc, trong khi Thái Lan chiếm 63,9%, Ma-lai-xi-a chiếm 13,6%, In-đô-nê-xi-a chiếm 9,7%. Đáng chú ý, lượng cao su tự nhiên nhập khẩu từ Việt Nam của Trung Quốc trong 4 tháng đầu năm 2019 tăng 33,9% so với cùng kỳ năm 2018, đạt 42,43 nghìn tấn; trị giá 52,91 triệu USD, tăng 11,3%.

Nhập khẩu cao su tổng hợp (mã HS: 4002) của Trung Quốc trong 4 tháng đầu năm 2019 đạt 1,47 triệu tấn, trị giá 2,35 tỷ USD, tăng 8,3% về lượng, nhưng giảm 3,1% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018. Thái Lan, Việt Nam và Ma-lai-xi-a là 3 thị trường chính cung cấp cao su tổng hợp cho Trung Quốc. Trong đó, trong 4 tháng đầu năm 2019, thị phần cao su tổng hợp của Việt Nam chiếm 14% trong tổng nhập khẩu của Trung Quốc; thị phần Thái Lan chiếm 36%.

Nhập khẩu cao su tái sinh (mã HS: 4003) của Trung Quốc trong 4 tháng đầu năm 2019 đạt 39,48 nghìn tấn, trị giá 27,56 triệu USD, tăng 49,8% về lượng và tăng 36% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018. Thái Lan, Ấn Độ, Ma-lai-xi-a và Việt Nam là các thị trường cung cấp cao su tái sinh chính cho Trung Quốc. Tuy nhiên, thị phần cao su tái sinh của Việt Nam chỉ chiếm 3,9% trong tổng lượng nhập khẩu của Trung Quốc 4 tháng đầu năm 2019; thị phần của Thái Lan chiếm 42,9%; Ấn Độ chiếm 30,7%.

Bản tin thị trường cao su đến ngày 01/7/2019

Nguồn: Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương

 

 

 

 

Datetime: 04 07 2019

 

 

 

Giá cà phê hôm nay tăng 200 đồng/kg ở khu vực Tây Nguyên dao động trong khoảng 33.200 – 34.500 đồng/kg. Trong đó, giá cà phê cao nhất ghi nhận tại tỉnh Đắk Lắk, thấp nhất tại Lâm Đồng.

Cập nhật giá cà phê

Giá cà phê hôm nay tăng 200 đồng/kg ở khu vực Tây Nguyên dao động trong khoảng 33.200 – 34.500 đồng/kg. Trong đó, giá cà phê cao nhất ghi nhận tại tỉnh Đắk Lắk, thấp nhất tại Lâm Đồng, theo giacaphe.com.

Giá cà phê quanh cảng TP HCM giảm 14 USD/tấn xuống 1.410 USD/tấn.

  Giá cà phê trong nước

TT nhân xô Giá trung bình Thay đổi
FOB (HCM) 1,410 Trừ lùi: -45
Đắk Lăk 34,500 +200
Lâm Đồng 33,200 +200
Gia Lai 34,300 +200
Đắk Nông 34,200 +200
Hồ tiêu 45,000 0
Tỷ giá USD/VND 23,185 +5
Đơn vị tính: VND/kg|FOB: USD($)/tấn

Kết phiên giao dịch hôm 3/7, giá cà phê robusta giao trong tháng 7 tăng gần 1% lên 1.424 USD/tấn. Giá cà phê arabica giao trong tháng 7 tăng 3,4% lên 112,5 USCent/pound.

Theo Global Coffee Report, “Điều này mở ra cơ hội để thích ứng với biến đổi khí hậu và sự nóng lên toàn cầu”, ông Kaue de Sousa, chuyên gia nghiên cứu viên và tác giả hàng đầu của cuộc nghiên cứu, cho biết.

“Sự quan tâm của nông dân đối với sản xuất cacao đang tăng lên do cà phê dễ bị ảnh hưởng trong điều kiện khí hậu thay đổi. Việc nên làm bây giờ là hình thành năng suất giữa các hộ sản xuất nhỏ để điều chỉnh thành công hệ thống cây trồng của họ”.

Nghiên cứu này được thực hiện với sự hợp tác của Đại học Inland Na Uy, Bioversity International, Trung tâm nông lâm thế giới và Đại học Wageningen, theo Global Coffee Report.

Các chuyên gia nghiên cứu cho biết sản lượng cà phê, đặc biệt là cà phê arabica, có thể sẽ giảm khi hiện tượng nóng lên toàn cầu gia tăng và thời tiết khắc nghiệt làm giảm điều kiện địa lí ở những khu vực cà phê phát triển tốt nhất.

Điều này cũng làm tăng dịch bệnh cho cây với bệnh rỉ sắt trên lá cà phê ảnh hưởng đến 70% trang trại cà phê ở Trung Mỹ trong năm 2017. Trong khi, tương lai của cây cacao có vẻ khả quan hơn.

Trong khi nghiên cứu xác định cây cacao ít bị ảnh hưởng hơn bởi sự nóng lên toàn cầu so với cà phê, các nhà nghiên cứu tin rằng nông dân có thể điều chỉnh sản xuất nông lâm kết hợp để giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu.

Cà phê và cacao thường được trồng dưới mô hình nông lâm kết hợp, phương thức mà các cây khác được đưa vào hệ thống canh tác.

“Theo truyền thống, cà phê và ca cao đều được trồng dưới bóng cây để giảm tác động của nhiệt và bảo vệ đất nhưng cây che bóng thường bị bỏ qua trong hầu hết các nghiên cứu về biến đổi khí hậu trong tương lai”, Roeland Kindt, nhà sinh thái học cao cấp tại Trung tâm nông lâm thế giới nhận định.

Cách tiếp cận mô hình nông lâm kết hợp cung cấp các dịch vụ hệ sinh thái bổ sung làm cho hệ thống sản xuất trở nên ổn định hơn, ví dụ như giữ nguồn nước và cung cấp môi trường sống cho chim và côn trùng săn mồi ngăn chặn dịch hại tự nhiên.

“Hệ thống nông lâm kết hợp là ví dụ rõ ràng về cách tương tác tích cực giữa các cây có thể cải thiện điều kiện phát triển khắc nghiệt và tạo điều kiện tăng năng suất nông nghiệp.

Nghiên cứu của chúng tôi khám phá loài cây nào có thể áp dụng tốt nhất trong các đồn điền cà phê và cacao trong tương lai để tạo ra các vi khí hậu lành tính hơn”, theo Milena Holmgren, chuyên gia nghiên cứu về khả năng phục hồi của hệ sinh thái đối với biến đổi khí hậu tại Đại học Wageningen.

Cập nhật giá hồ tiêu

Giá tiêu hôm nay ở khu vực Tây Nguyên đi ngang ở mức 44.000 – 46.500 đồng/kg. Trong đó, cao nhất tại Bà Rịa – Vũng Tàu và thấp nhất nhất tại Đồng Nai.

Tỉnh

/huyện (khu vực khảo sát)

Giá thu mua

Đơn vị: VNĐ/kg

ĐẮK LẮK  
— Ea H’leo 45,500
GIA LAI  
— Chư Sê 44,500
ĐẮK NÔNG  
— Gia Nghĩa 45,500
BÀ RỊA – VŨNG TÀU  
— Tiêu 46,500
BÌNH PHƯỚC  
— Tiêu 46,000
ĐỒNG NAI  
— Tiêu 44,000

Theo Cục Chế biến và Phát triển Thị trường Nông sản Khối lượng tiêu xuất khẩu tháng 6/2019 ước đạt 36 nghìn tấn, với giá trị đạt 88 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu tiêu 6 tháng đầu năm 2019 ước đạt 182 nghìn tấn và 464 triệu USD, tăng 39,5% về khối lượng và tăng 2,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2018.

Các thị trường xuất khẩu tiêu lớn nhất của Viêṭ Nam là Mỹ, Ấn Độ, Đức, Pakistan

và Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất với 38,5% thị phần. Giá tiêu xuất khẩu bình quân đạt 2.579 USD/tấn, giảm 25,8% so với cùng kỳ năm 2018.

Cập nhật giá cao su

Trên sàn TOCOM (Nhật Bản), giá cao su giao tháng 9/2019 lúc 10h20 ngày 3/7 (giờ địa phương) giảm 0,6% xuống mức 215,2 yen/kg.

Khối lượng xuất khẩu cao su tháng 6/2019 đạt 113 nghìn tấn với giá trị đạt 159 triệu USD, đưa khối lượng và giá trị xuất khẩu cao su 6 tháng đầu năm 2019 ước đạt 604 nghìn tấn và 826 triệu USD, tăng 7% về khối lượng và tăng 0,7% về giá trị so với cùng kỳ năm 2018.

Giá cao su xuất khẩu bình quân đạt 1.357 USD/tấn, giảm 7,2% so với cùng kỳ năm 2018. Trung Quốc, Ấn Độ, và Hàn Quốc là 3 thị trường tiêu thụ cao su lớn nhất của Việt Nam trong 5 tháng đầu năm 2018, chiếm thị phần lần lượt là 64,2%, 8% và 3,7%.

Đức Quỳnh

Theo Kinh tế & Tiêu dùng

 

 

 

Datetime: 26 06 2019

Tại Sở giao dịch hàng hóa Tokyo (TOCOM), giá cao su ngày 26/6/2019 kỳ hạn tháng 11/2019 tăng, sau 4 phiên giảm liên tiếp, với các nhà đầu tư mua vào kiếm lời.

Giá cao su RSS3 tại sàn TOCOM lúc 10h30 ngày 26/6/2019 (giờ Hà Nội)