








Giá sầu riêng hôm nay (16/12) tại các vùng thu mua trọng điểm tiếp tục đi ngang. Trước nguy cơ cadimi tích lũy vượt ngưỡng cho phép trong sầu riêng, chuyên gia khuyến cáo nông dân cần áp dụng đồng bộ các giải pháp cải tạo đất, quản lý phân bón và biện pháp sinh học để kiểm soát hiệu quả tồn dư kim loại nặng, bảo đảm an toàn xuất khẩu.
Cập nhật từ chogia.vn trong ngày 16/12 cho thấy giá sầu riêng trên thị trường nội địa tiếp tục giữ nhịp ổn định, khi hầu hết các vùng trồng trọng điểm chưa ghi nhận biến động đáng chú ý về giá.
Tại khu vực Tây Nam Bộ, sầu riêng RI6 loại đạt chuẩn vẫn được thu mua trong khoảng 60.000 – 65.000 đồng/kg, còn hàng xô duy trì mức 25.000 – 28.000 đồng/kg. Đối với sầu riêng Thái, giá giao dịch nhìn chung không thay đổi, loại đẹp phổ biến ở mức 85.000 – 90.000 đồng/kg, trong khi hàng xô dao động từ 45.000 – 50.000 đồng/kg.
Ở Đông Nam Bộ, giá RI6 tiếp tục đi ngang, với loại đẹp được giao dịch trong khoảng 55.000 – 60.000 đồng/kg; hàng xô giữ mức 25.000 – 30.000 đồng/kg. Sầu riêng Thái tại khu vực này cũng không có biến động mới, loại đẹp duy trì ở vùng 75.000 – 85.000 đồng/kg, còn loại xô quanh ngưỡng 40.000 – 50.000 đồng/kg.
Riêng tại Tây Nguyên, thị trường sầu riêng vẫn ổn định. RI6 loại đẹp hiện dao động 52.000 – 54.000 đồng/kg, trong khi RI6 xô giữ ở mức 25.000 – 30.000 đồng/kg. Sầu riêng Thái loại đẹp được thu mua trong khoảng 72.000 – 74.000 đồng/kg, còn hàng xô phổ biến ở mức 32.000 – 35.000 đồng/kg.
|
*(Đơn vị tính: đồng/kg) |
|||
|
Tên loại Sầu Riêng |
Ngày 15/12/2025 |
Ngày 13/12/2025 |
Thay đổi |
|
KHU VỰC MIỀN TÂY NAM BỘ |
|||
|
RI6 Đẹp Lựa |
60.000 – 65.000 |
60.000 - 65.000 |
- |
|
RI6 Xô |
25.000 – 28.000 |
25.000 - 28.000 |
- |
|
Sầu Riêng Thái Đẹp Lựa |
85.000 – 90.000 |
85.000 - 90.000 |
- |
|
Sầu Riêng Thái Mua Xô |
45.000 – 50.000 |
45.000 – 50.000 |
- |
|
KHU VỰC MIỀN ĐÔNG NAM BỘ |
|||
|
RI6 Đẹp Lựa |
55.000 – 60.000 |
55.000 - 60.000 |
- |
|
RI6 Xô |
25.000 – 30.000 |
25.000 - 30.000 |
- |
|
Sầu Riêng Thái Đẹp Lựa |
75.000 – 85.000 |
75.000 - 85.000 |
- |
|
Sầu Riêng Thái Mua Xô |
40.000 – 50.000 |
40.000 – 50.000 |
- |
|
KHU VỰC TÂY NGUYÊN |
|||
|
RI6 Đẹp Lựa |
52.000 – 54.000 |
52.000 – 54.000 |
- |
|
RI6 Xô |
25.000 – 30.000 |
25.000 - 30.000 |
- |
|
Sầu Riêng Thái Đẹp Lựa |
72.000 – 74.000 |
72.000 – 74.000 |
- |
|
Sầu Riêng Thái Mua Xô |
32.000 – 35.000 |
32.000 – 35.000 |
- |
Số liệu: Chogia.vn
Tổng hợp: Hà My
Theo báo Nông nghiệp và Môi trường, áp dụng đồng bộ các giải pháp cải tạo đất, phân bón và biện pháp sinh học sẽ giúp kiểm soát hiệu quả tồn dư cadimi trong đất.
Cadimi (Cd) là kim loại nặng tồn tại tự nhiên trong đất nhưng có xu hướng tích lũy tăng dần qua nhiều năm canh tác, đặc biệt từ phân bón, nguồn nước tưới và thuốc bảo vệ thực vật. Với cây sầu riêng, cadimi dễ được rễ hấp thụ và tích lũy trong lá, cành và trái, tiềm ẩn nguy cơ vượt ngưỡng cho phép, ảnh hưởng đến xuất khẩu.
Theo quy định của thị trường Trung Quốc, hàm lượng cadimi trong trái sầu riêng phải dưới 0,05mg/kg. Nếu vượt ngưỡng, lô hàng có thể bị trả về, mất mã vùng trồng, làm giảm uy tín của cả vùng sản xuất.
Theo TS Trần Thị Mỹ Hạnh, Trưởng Bộ môn Bảo vệ thực vật (Viện Cây ăn quả miền Nam), cadimi hòa tan mạnh trong điều kiện đất chua. Khi pH đất thấp dưới 5,5, ion Cd²⁺ tăng cao, rễ sầu riêng rất dễ hấp thụ cadimi. Bên cạnh đó, việc lạm dụng phân lân, sử dụng phân chuồng chưa kiểm soát, nước tưới ô nhiễm và canh tác lâu năm không cải tạo đất khiến cadimi tích lũy ngày càng nhiều.
Do đó, TS Hạnh khuyến cáo 6 giải pháp để bà con áp dụng đồng bộ.
Thứ nhất, kiểm tra và theo dõi định kỳ: Nông dân nên xét nghiệm đất, nước tưới, lá và trái mỗi 6 - 12 tháng, ghi chép nhật ký sản xuất để phục vụ truy xuất nguồn gốc.
Thứ hai, cải tạo đất, nâng pH: Bón vôi CaO hoặc CaCO₃ để nâng pH đất lên khoảng 6. Khi đất bớt chua, cadimi chuyển sang dạng khó hòa tan, cây hấp thụ ít hơn.
Thứ ba, bón phân an toàn, cân đối: Hạn chế phân lân và phân bón không rõ nguồn gốc; bón NPK hợp lý, tránh bón đạm cao đột ngột; bổ sung canxi, magiê, kẽm. Tăng cường phân hữu cơ hoai mục, phân hữu cơ vi sinh hoặc biochar để giữ cadimi trong đất.
Thứ tư, quản lý chặt nguồn nước tưới: Không lấy nước từ kênh mương có nước thải sinh hoạt hoặc công nghiệp; làm rãnh thoát nước tốt, tránh ngập úng kéo dài; ưu tiên tưới nhỏ giọt hoặc phun gốc.
Thứ năm, trồng xen cây hấp thụ cadimi: Có thể trồng bạc hà, cải xanh, rau dền, thù lù hoặc cỏ vetiver quanh mương, ranh vườn để “hút” bớt cadimi trong đất. Sinh khối sau thu hoạch phải thu gom, tiêu hủy, không dùng làm phân.
Thứ sáu, bổ sung vi sinh vật có lợi: Các chế phẩm chứa Trichoderma, Bacillus, Pseudomonas… giúp cố định, kết tủa cadimi, giảm khả năng cây sầu riêng hấp thụ.
Mở cửa phiên giao dịch 15/12, tại Thái Lan, giá cao su kỳ hạn tháng 1/2026 nhích nhẹ lên 56 baht/kg. Tại thị trường Nhật Bản (OSE), giá cao su kỳ hạn tháng 1 tăng 0,1% (0,4 yen) lên mức 328 yen/kg. Tại Trung Quốc, giá cao su kỳ hạn tháng 3/2026 tăng 0,1% (15 nhân dân tệ) lên mức 15.255 nhân dân tệ/tấn.
Diễn biến giá cao su kỳ hạn tại Thái Lan và Nhật Bản. Nguồn: Lan Hương tổng hợp
Thị trường tiếp tục thận trọng trong việc theo dõi diễn biến cung cầu cao su thiên nhiên. Theo Cơ quan Thống kê Malaysia (DOSM), sản lượng cao su thiên nhiên (NR) của Malaysia tăng 11,4% lên 29.673 tấn trong tháng 10/2025, từ mức 26.647 tấn của tháng 9.
Tổng cục trưởng DOSM, Datuk Seri Dr Mohd Uzir Mahidin, cho biết sự cải thiện chủ yếu đến từ khu vực tiểu điền, chiếm 86,5% tổng sản lượng, so với 13,5% từ các đồn điền.
“So với cùng kỳ năm trước, sản lượng NR giảm 22,7% (tháng 10/2024 ghi nhận 38.400 tấn),” ông cho biết trong thông báo.
Theo DOSM, tổng tồn kho NR giảm 8,9% xuống 145.438 tấn trong tháng 10, từ 159.646 tấn của tháng 9. Các nhà máy chế biến cao su chiếm 80,1% lượng tồn kho, tiếp theo là các nhà máy tiêu thụ cao su (19,8%) và đồn điền (0,1%).
Xuất khẩu cao su thiên nhiên tăng 57,8% lên 52.932 tấn trong tháng 10, từ 33.549 tấn của tháng 9. Trung Quốc tiếp tục là thị trường lớn nhất, chiếm 55,3% tổng giá trị xuất khẩu, theo sau là Đức (9,4%), Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (8,7%), Mỹ (8,0%) và Ai Cập (2,7%).
Găng tay cao su vẫn là mặt hàng cao su chủ lực của Malaysia, với giá trị xuất khẩu đạt 1,2 tỷ ringgit trong tháng 10, tăng 12,4% so với mức 1,1 tỷ ringgit của tháng trước.
Giá cao su bình quân hàng tháng suy yếu, trong đó giá cao su latex đặc giảm 1,4% (tháng 10 ghi nhận 569,84 sen/kg; tháng 9 đạt 577,89 sen/kg) và cao su vụn giảm 0,7% (tháng 10: 600,44 sen/kg; tháng 9: 604,53 sen/kg). Giá các chủng loại cao su Malaysia tiêu chuẩn giảm từ 0,4 - 1,9%.
DOSM cho biết theo dữ liệu giá hàng hóa của Ngân hàng Thế giới, cao su TSR 20 giảm 1,5% xuống 1,71 USD/kg từ mức 1,74 USD/kg, trong khi giá SGP/MYS (Singapore/Malaysia) trượt 4,9% xuống 2,00 USD/kg từ mức 2,11 USD/kg.
Tương tự tại Đức, ngành cao su đang đối mặt với nhiều sức ép khi các nhà cung ứng linh kiện ô tô trong EU chịu tác động mạnh từ xu hướng tăng trưởng chậm lại của ngành xe hơi toàn cầu, theo phân tích của chuyên gia Roland Berger, Tiến sĩ Kay Thielemann, tại hội nghị thường niên WDK của ngành cao su Đức.
Thielemann cho biết, đà phục hồi của ngành ô tô đã dừng lại và sản lượng khó có thể quay về mức trước Covid trước năm 2029. Xu hướng này kéo theo tăng trưởng chậm ở các phân khúc sử dụng nhiều cao su như lốp xe, gioăng, bộ phận chống rung và các linh kiện cao su kỹ thuật.
Theo phân tích của ông, tốc độ chuyển dịch sang xe điện (BEV) đang chậm hơn dự kiến, sản lượng lắp ráp toàn cầu đi ngang và cạnh tranh từ Trung Quốc gia tăng. Điều này khiến nhu cầu cao su nói chung – bao gồm cao su thiên nhiên cho sản xuất lốp và linh kiện – tăng trưởng chậm hơn và đặt thêm áp lực lên lợi nhuận của các nhà cung ứng.
Tuy vậy, chuyên gia của Roland Berger cho biết ngành cao su vẫn có cơ hội, đặc biệt ở các sản phẩm phục vụ xe điện. Dù tốc độ phổ cập BEV giảm tốc, khối lượng xe điện vẫn tăng, mở ra nhu cầu mới cho các giải pháp cao su chuyên dụng như lốp trọng lượng nhẹ, lốp lực cản lăn thấp, vật liệu cao su cho hệ thống làm mát pin, và gioăng – đệm cho mô-đun pin.
Song song đó, xu hướng vật liệu bền vững, giảm phát thải cũng tạo động lực đổi mới cho ngành cao su, trong đó có cao su thiên nhiên đạt chuẩn bền vững hoặc vật liệu pha trộn sinh học. Sự mở rộng của các hãng xe Trung Quốc tại châu Âu và việc số hóa chuỗi cung ứng bằng AI cũng được xem là yếu tố có thể tạo cơ hội cho các doanh nghiệp cao su thích ứng nhanh.
Tuy nhiên, Thielemann cảnh báo rằng ngành vẫn phải vượt qua rủi ro địa chính trị, áp lực quy định ngày càng mạnh và nhu cầu tiêu thụ tăng chậm. Do đó, ông khuyến nghị các nhà sản xuất cao su ưu tiên tăng hiệu quả vận hành và đa dạng hóa.
Trong nước, giá thu mua cao su nguyên liệu có biến động nhẹ. Cụ thể, tại công ty Bình Long, giá cao su thu mua bình ổn tại Nhà máy ở mức 440 đồng/độ TSC/kg, giá thu mua tại đội sản xuất 412 đồng/TSC/kg, đều cao hơn 18 đồng so với kỳ trước; còn giá mủ tạp bình ổn (DRC 60%) 14.000 đồng/kg.
Trong khi đó, các doanh nghiệp khác bình ổn giá cao su. Cụ thể, Công ty Cao su Bà Rịa báo giá thu mua mủ nước ở mức 415 đồng/độ TSC/kg (áp dụng cho độ TSC từ 25 đến dưới 30); mủ đông DRC (35 - 44%) ở mức 13.900 đồng/kg, mủ nguyên liệu 18.500 đồng/kg.
Tại Công ty MangYang, giá thu mua mủ nước ghi nhận khoảng 403-408 đồng/TSC (loại 2-loại 1), mủ đông tạp khoảng 368 – 419 đồng/DRC (loại 2-loại 1). Tương tự, Công ty Phú Riềng chào giá thu mua mủ tạp bình ổn ở mức 390 đồng/DRC, giá thu mua mủ nước 420 đồng/TSC.
Theo Doanh Nghiệp & Kinh Doanh
Giá sầu riêng hôm nay (12/12) tại các vùng thu mua trọng điểm tiếp tục đi ngang. Đồng Tháp đang khuyến khích nông dân trồng sầu riêng chuyển sang sản xuất hữu cơ và tham gia hợp tác xã để chuẩn hóa quy trình, nâng chất lượng trái. Việc này giúp khắc phục tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, giá cả bấp bênh và tạo điều kiện hướng đến xuất khẩu chính ngạch.
Theo ghi nhận từ chogia.vn ngày 12/12, mặt bằng giá sầu riêng trong nước tiếp tục giữ trạng thái ổn định, chưa xuất hiện biến động so với các ngày trước.
Tại khu vực Tây Nam Bộ, sầu riêng RI6 loại đẹp vẫn được thương lái thu mua quanh mức 60.000 – 65.000 đồng/kg, trong khi hàng loại xô duy trì 25.000 – 28.000 đồng/kg. Dòng sầu riêng Thái cũng không thay đổi, loại đẹp giữ mức 85.000 – 90.000 đồng/kg và loại xô dao động 45.000 – 50.000 đồng/kg.
Ở Đông Nam Bộ, giá RI6 loại đẹp ghi nhận ở mức 55.000 – 60.000 đồng/kg; loại xô phổ biến 25.000 – 30.000 đồng/kg. Sầu riêng Thái tiếp tục đứng giá, với loại đẹp trong khoảng 75.000 – 85.000 đồng/kg và loại xô 40.000 – 50.000 đồng/kg.
Khu vực Tây Nguyên cũng cho thấy tình hình tương tự khi không xuất hiện thay đổi mới. Giá RI6 loại đẹp neo ở mức 52.000 – 54.000 đồng/kg, còn hàng xô giữ mức 25.000 – 30.000 đồng/kg. Với sầu riêng Thái, loại đẹp ổn định quanh 72.000 – 74.000 đồng/kg và loại xô ở mức 32.000 – 35.000 đồng/kg.
|
*(Đơn vị tính: đồng/kg) |
|||
|
Tên loại Sầu Riêng |
Ngày 11/12/2025 |
Ngày 10/12/2025 |
Thay đổi |
|
KHU VỰC MIỀN TÂY NAM BỘ |
|||
|
RI6 Đẹp Lựa |
60.000 – 65.000 |
60.000 - 65.000 |
- |
|
RI6 Xô |
25.000 – 28.000 |
25.000 - 28.000 |
- |
|
Sầu Riêng Thái Đẹp Lựa |
85.000 – 90.000 |
85.000 - 90.000 |
- |
|
Sầu Riêng Thái Mua Xô |
45.000 – 50.000 |
45.000 – 50.000 |
- |
|
KHU VỰC MIỀN ĐÔNG NAM BỘ |
|||
|
RI6 Đẹp Lựa |
55.000 – 60.000 |
55.000 - 60.000 |
- |
|
RI6 Xô |
25.000 – 30.000 |
25.000 - 30.000 |
- |
|
Sầu Riêng Thái Đẹp Lựa |
75.000 – 85.000 |
75.000 - 85.000 |
- |
|
Sầu Riêng Thái Mua Xô |
40.000 – 50.000 |
40.000 – 50.000 |
- |
|
KHU VỰC TÂY NGUYÊN |
|||
|
RI6 Đẹp Lựa |
52.000 – 54.000 |
52.000 – 54.000 |
- |
|
RI6 Xô |
25.000 – 30.000 |
25.000 - 30.000 |
- |
|
Sầu Riêng Thái Đẹp Lựa |
72.000 – 74.000 |
72.000 – 74.000 |
- |
|
Sầu Riêng Thái Mua Xô |
32.000 – 35.000 |
32.000 – 35.000 |
- |
Số liệu: Chogia.vn
Tổng hợp: Hà My
Theo báo Sài Gòn Giải phóng, ngành chức năng tỉnh Đồng Tháp đang khuyến khích nông dân trồng sầu riêng chuyển đổi theo hướng hữu cơ, sản xuất tập trung và tham gia mô hình hợp tác xã (HTX) nhằm chuẩn hóa quy trình, nâng chất lượng trái và hướng đến xuất khẩu chính ngạch.
Những năm gần đây, diện tích sầu riêng tại Đồng Tháp tăng nhanh do nông dân tự phát chuyển đổi cây trồng, dẫn đến sản xuất nhỏ lẻ, mỗi vườn một quy trình. Điều này khiến chất lượng trái không đồng đều, giá cả bấp bênh và đầu ra thiếu ổn định.
Nông dân Trần Thanh Sơn (xã Phú Hựu) cho biết giá sầu riêng từng chênh lệch rất lớn, có lúc đạt 180.000 đồng/kg nhưng cũng có thời điểm rớt còn 20.000 đồng/kg. Nguyên nhân là do mỗi hộ áp dụng kỹ thuật khác nhau, từ xử lý ra hoa đến bón phân, phun thuốc, khiến sản phẩm không đạt chuẩn chung.
Theo khuyến cáo của ngành nông nghiệp, nông dân cần sản xuất tập trung theo vùng trồng hoặc tham gia HTX để đảm bảo quy trình đồng bộ, kiểm soát rủi ro và đủ điều kiện xuất khẩu.
Ông Sơn cho biết từ khi tham gia HTX sầu riêng Phú Hựu, toàn bộ 2,2ha sầu riêng của ông được chuyển sang canh tác hữu cơ, đất tơi xốp hơn, trái đều và được doanh nghiệp thu mua xuất khẩu với đầu ra ổn định. HTX hiện có 35 thành viên với hơn 200ha, phần lớn sản xuất hữu cơ và đang hướng đến chứng nhận VietGAP, GlobalGAP, đồng thời xây dựng thương hiệu sầu riêng Phú Hựu.
