








Giá cao su Nhật Bản kỳ hạn xa tiếp đà tăng trong phiên giao dịch, đánh dấu phiên tăng thứ 8 liên tiếp, nhờ nhu cầu mạnh mẽ từ các ngành hạ nguồn.
Kết thúc phiên giao dịch 30/12, tại Thái Lan, giá cao su kỳ hạn tháng 1/2026 tăng 0,7% (0,4 baht) lên mức 60,9 baht/kg. Tại thị trường Nhật Bản (OSE), giá cao su kỳ hạn tháng 1 đi ngang mức 335 yen/kg. Tại Trung Quốc, giá cao su kỳ hạn tháng 3/2026 giảm 0,6% (95 nhân dân tệ) về mức 15.650 nhân dân tệ/tấn.
Diễn biến giá cao su kỳ hạn tại Thái Lan và Nhật Bản. Nguồn: Lan Hương tổng hợp
Trong khi đó, giá cao su Nhật Bản kỳ hạn xa tiếp đà tăng trong phiên giao dịch, đánh dấu phiên tăng thứ 8 liên tiếp, nhờ nhu cầu mạnh mẽ từ các ngành hạ nguồn, đặc biệt là lĩnh vực ô tô, theo Reuters.
Hợp đồng cao su giao tháng 6/2026 trên Sàn Giao dịch Osaka (OSE) đóng cửa tăng 1,29%, tương đương 4,4 yên lên 345,5 yên/kg. Đà tăng được hỗ trợ bởi nhu cầu tiêu thụ ổn định, trong bối cảnh nguồn cung nguyên liệu thô từ các quốc gia sản xuất lớn ở nước ngoài gặp nhiều gián đoạn, theo trang thông tin tài chính Tonghuashun.
Ngược lại, thị trường cao su tại Trung Quốc chịu áp lực từ tồn kho gia tăng. Trên Sàn Giao dịch Kỳ hạn Thượng Hải (SHFE), hợp đồng cao su giao tháng 5/2026 giảm 0,44% xuống 15.670 nhân dân tệ/tấn, trong khi hợp đồng cao su butadien giao tháng 2 – được giao dịch nhiều nhất – giảm 0,47% còn 11.565 nhân dân tệ/tấn.
Nhu cầu ô tô tiếp tục là yếu tố hỗ trợ thị trường cao su toàn cầu. Nhà sản xuất xe điện Trung Quốc Leapmotor cho biết kỳ vọng doanh số sẽ vượt 4 triệu xe mỗi năm trong vòng 10 năm tới, nhờ tăng trưởng mạnh về sản lượng và lợi nhuận trong năm 2025. Nhu cầu xe cao hơn đang tạo áp lực tăng đối với giá lốp xe cao su.
Tuy nhiên, lượng tồn kho cao su tích lũy tại Trung Quốc, đặc biệt tại trung tâm nhập khẩu Thanh Đảo (Qingdao), hiện cao hơn so với cùng kỳ năm trước, theo dữ liệu từ trang tài chính CNGold. Điều này đang gây sức ép lên giá cao su trong nước. Các nhà phân tích nhận định rằng, trong bối cảnh áp lực sản xuất và tiêu thụ vẫn kéo dài cùng với tồn kho lốp xe ở mức cao, nhiều doanh nghiệp có thể sẽ giảm sản lượng trong ngắn hạn.
Trong khi đó, giá dầu thô quay đầu giảm sau khi tăng hơn 2% trong phiên trước. Diễn biến này cũng ảnh hưởng đến thị trường cao su, do cao su thiên nhiên thường biến động cùng chiều với giá dầu, khi cạnh tranh thị phần với cao su tổng hợp – một sản phẩm được sản xuất từ dầu mỏ.
Trên thị trường khu vực, hợp đồng cao su giao tháng 1/2026 trên Sàn SICOM Singapore được giao dịch ở mức 183,3 US cent/kg, tăng 0,1%.
Trong nước, giá thu mua cao su nguyên liệu bình ổn. Cụ thể, tại công ty Bình Long, giá cao su thu mua bình ổn tại Nhà máy ở mức 440 đồng/độ TSC/kg, giá thu mua tại đội sản xuất 412 đồng/TSC/kg; còn giá mủ tạp bình ổn (DRC 60%) 14.000 đồng/kg.
Tương tự, các doanh nghiệp khác bình ổn giá cao su. Cụ thể, Công ty Cao su Bà Rịa báo giá thu mua mủ nước ở mức 415 đồng/độ TSC/kg (áp dụng cho độ TSC từ 25 đến dưới 30); mủ đông DRC (35 - 44%) ở mức 13.900 đồng/kg, mủ nguyên liệu 18.500 đồng/kg.
Tại Công ty MangYang, giá thu mua mủ nước ghi nhận khoảng 403-408 đồng/TSC (loại 2-loại 1), mủ đông tạp khoảng 368 – 419 đồng/DRC (loại 2-loại 1). Tương tự, Công ty Phú Riềng chào giá thu mua mủ tạp bình ổn ở mức 390 đồng/DRC, giá thu mua mủ nước 420 đồng/TSC.
Giá sầu riêng hôm nay (31/12) tiếp tục lặng sóng tại các vùng thu mua trọng điểm. Sầu riêng tiếp tục là mặt hàng chủ lực của ngành rau quả, giúp Việt Nam thu hẹp nhanh khoảng cách thị phần với Thái Lan tại Trung Quốc và đưa kim ngạch xuất khẩu rau quả tăng mạnh trong năm 2025.
Theo cập nhật trong ngày 31/12 từ chogia.vn, thị trường sầu riêng trong nước tiếp tục rơi vào trạng thái trầm lắng khi giao dịch chưa có nhiều cải thiện. Nhu cầu thu mua ở mức thấp khiến giá sầu riêng tại các vùng sản xuất trọng điểm gần như không biến động so với những ngày trước.
Tại khu vực Tây Nam Bộ, sầu riêng RI6 loại đạt chuẩn hiện được thương lái thu mua phổ biến trong khoảng 60.000 – 65.000 đồng/kg; sầu riêng hàng xô dao động quanh mức 25.000 – 28.000 đồng/kg. Với sầu riêng Thái, mặt bằng giá vẫn ổn định, loại đẹp giao dịch chủ yếu ở mức 85.000 – 90.000 đồng/kg, trong khi hàng xô được thu mua trong khoảng 45.000 – 50.000 đồng/kg.
Ở Đông Nam Bộ, thị trường ghi nhận diễn biến tương đối đi ngang. Giá sầu riêng RI6 loại đẹp duy trì ở mức 55.000 – 60.000 đồng/kg, còn hàng xô dao động từ 25.000 – 30.000 đồng/kg. Sầu riêng Thái không có biến động mới, với giá thu mua loại đạt chuẩn phổ biến trong khoảng 75.000 – 85.000 đồng/kg; hàng xô quanh mức 40.000 – 50.000 đồng/kg.
Tại khu vực Tây Nguyên, giá sầu riêng tiếp tục ổn định. Sầu riêng RI6 loại đẹp hiện được giao dịch ở mức 52.000 – 54.000 đồng/kg, trong khi hàng xô phổ biến từ 25.000 – 30.000 đồng/kg. Đối với sầu riêng Thái, loại đẹp đang được thu mua quanh ngưỡng 72.000 – 74.000 đồng/kg, còn hàng xô dao động khoảng 32.000 – 35.000 đồng/kg.
|
*(Đơn vị tính: đồng/kg) |
|||
|
Tên loại Sầu Riêng |
Ngày 30/12/2025 |
Ngày 29/12/2025 |
Thay đổi |
|
KHU VỰC MIỀN TÂY NAM BỘ |
|||
|
RI6 Đẹp Lựa |
60.000 – 65.000 |
60.000 - 65.000 |
- |
|
RI6 Xô |
25.000 – 28.000 |
25.000 - 28.000 |
- |
|
Sầu Riêng Thái Đẹp Lựa |
85.000 – 90.000 |
85.000 - 90.000 |
- |
|
Sầu Riêng Thái Mua Xô |
45.000 – 50.000 |
45.000 – 50.000 |
- |
|
KHU VỰC MIỀN ĐÔNG NAM BỘ |
|||
|
RI6 Đẹp Lựa |
55.000 – 60.000 |
55.000 - 60.000 |
- |
|
RI6 Xô |
25.000 – 30.000 |
25.000 - 30.000 |
- |
|
Sầu Riêng Thái Đẹp Lựa |
75.000 – 85.000 |
75.000 - 85.000 |
- |
|
Sầu Riêng Thái Mua Xô |
40.000 – 50.000 |
40.000 – 50.000 |
- |
|
KHU VỰC TÂY NGUYÊN |
|||
|
RI6 Đẹp Lựa |
52.000 – 54.000 |
52.000 – 54.000 |
- |
|
RI6 Xô |
25.000 – 30.000 |
25.000 - 30.000 |
- |
|
Sầu Riêng Thái Đẹp Lựa |
72.000 – 74.000 |
72.000 – 74.000 |
- |
|
Sầu Riêng Thái Mua Xô |
32.000 – 35.000 |
32.000 – 35.000 |
- |
Số liệu: Chogia.vn
Tổng hợp: Hà My
Theo thống kê của Cục Xuất nhập khẩu, sầu riêng tiếp tục đóng vai trò đầu tàu, thúc đẩy tăng trưởng của ngành hàng rau quả. Lũy kế 11 tháng năm 2025, Trung Quốc đã chi khoảng 7,18 tỷ USD để nhập khẩu 1,79 triệu tấn sầu riêng tươi, tăng 17,2% về sản lượng so với cùng kỳ năm ngoái.
Đáng chú ý, khoảng cách về thị phần giữa Việt Nam và Thái Lan đang ngày càng thu hẹp. Nếu như thị phần sầu riêng Thái Lan tại Trung Quốc giảm xuống còn 50,39%, thì Việt Nam đã vươn lên nắm giữ 49,33% tổng lượng nhập khẩu. Với sản lượng xuất khẩu đạt 884,59 nghìn tấn, tương đương 3,24 tỷ USD, sầu riêng Việt Nam đang tạo sức ép cạnh tranh rõ nét nhờ nguồn cung dồi dào và lợi thế mùa vụ.
Tính đến giữa tháng 12/2025, kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam đã vượt 8,16 tỷ USD, ghi nhận mức tăng 19,2% so với cùng kỳ năm trước. Để giữ vững đà tăng trưởng, các chuyên gia khuyến nghị doanh nghiệp cần siết chặt khâu kiểm soát chất lượng, đặc biệt là dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, nhằm đáp ứng những yêu cầu ngày càng nghiêm ngặt từ các thị trường nhập khẩu.
Giá cao su diễn biến trái chiều khi Trung Quốc duy trì thuế chống bán phá giá với cao su, trong khi ngành lốp xe Hàn Quốc chịu áp lực lợi nhuận do thuế quan của Mỹ.
Kết thúc phiên giao dịch 25/12, tại Thái Lan, giá cao su kỳ hạn tháng 1/2026 giảm 0,3% (0,18 baht) về mức 60,42 baht/kg. Tại thị trường Nhật Bản (OSE), giá cao su kỳ hạn tháng 1 bình ổn mức 328,8 yen/kg. Tại Trung Quốc, giá cao su kỳ hạn tháng 3/2026 tăng 1,4% (220 nhân dân tệ) lên mức 15.655 nhân dân tệ/tấn.
Diễn biến giá cao su kỳ hạn tại Thái Lan và Nhật Bản. Nguồn: Lan Hương tổng hợp
Ngày 19/12, Trung Quốc thông báo sẽ tiếp tục duy trì mức thuế chống bán phá giá từ 12,5% - 222% đối với các sản phẩm cao su nhập khẩu từ Mỹ, Hàn Quốc và Liên minh châu Âu (EU), sau khi rà soát biện pháp này được áp dụng lần đầu cách đây 5 năm, theo Reuters.
Các mức thuế này áp dụng đối với cao su ethylene–propylene–non-conjugated diene (EPDM), một loại vật liệu được sử dụng rộng rãi trong ngành xây dựng, hệ thống dây điện và công nghiệp ô tô.
Trong khi đó tại Hàn Quốc, dù ba nhà sản xuất lốp xe lớn của Hàn Quốc được dự báo sẽ ghi nhận doanh thu tăng mạnh trong năm nay, lợi nhuận hoạt động của họ lại có xu hướng suy giảm. Nguyên nhân chủ yếu là các doanh nghiệp này chịu tác động trực tiếp từ thuế quan tại thị trường Mỹ – vốn được xem là thị trường “cốt lõi” của ngành. Để khôi phục khả năng sinh lời, ngành lốp xe đang đẩy mạnh mở rộng công suất sản xuất tại các nhà máy ở Mỹ và châu Âu, đồng thời tập trung vào các dòng sản phẩm có biên lợi nhuận cao như lốp cỡ lớn và lốp dành cho xe điện.
Theo dự báo của các công ty chứng khoán do FnGuide tổng hợp ngày 25/12, tổng doanh thu của ba hãng lốp xe Hàn Quốc trong năm nay ước đạt 29.017,8 tỷ won, tăng 72,8% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, lợi nhuận hoạt động dự kiến giảm 1,2% xuống còn 2.492,8 tỷ won, từ mức 2.523 tỷ won của năm ngoái. Điều này cho thấy lợi nhuận không theo kịp tốc độ tăng trưởng doanh thu.
Cụ thể, tại Hankook Tire & Technology, doanh thu được dự báo sẽ tăng vọt 124,6%, từ 9.411,9 tỷ won năm ngoái lên 21.135,8 tỷ won trong năm nay. Tuy nhiên, lợi nhuận hoạt động chỉ được ước tính tăng nhẹ 1,6%, từ 1.762,3 tỷ won lên 1.789,9 tỷ won.
Trong khi đó, Kumho Tire được dự báo ghi nhận doanh thu tăng 4,6% nhưng lợi nhuận hoạt động giảm 9,8%. Nexen Tire cũng dự kiến tăng 10,4% doanh thu, song lợi nhuận hoạt động lại giảm nhẹ 0,1%.
Yếu tố lớn nhất làm suy giảm khả năng sinh lời của ngành lốp xe Hàn Quốc là mức thuế 25% đối với linh kiện ô tô do chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump áp đặt hồi đầu năm nay. Mặc dù châu Âu là thị trường tiêu thụ lớn nhất về doanh số, lợi nhuận của ngành lại phụ thuộc nhiều hơn vào thị trường Mỹ.
Khác với châu Âu – nơi các dòng xe cỡ nhỏ và trung bình chiếm ưu thế – thị trường Mỹ có tỷ lệ cao các loại xe cỡ lớn như bán tải và xe thể thao đa dụng (SUV), vốn sử dụng lốp có kích thước lớn hơn. Tỷ trọng doanh số từ các loại lốp có biên lợi nhuận cao, kích thước từ 18 inch trở lên, chỉ chiếm khoảng 20–30% tại châu Âu, nhưng lên tới 50% tại thị trường Mỹ.
Trong nước, giá thu mua cao su nguyên liệu bình ổn. Cụ thể, tại công ty Bình Long, giá cao su thu mua bình ổn tại Nhà máy ở mức 440 đồng/độ TSC/kg, giá thu mua tại đội sản xuất 412 đồng/TSC/kg; còn giá mủ tạp bình ổn (DRC 60%) 14.000 đồng/kg.
Tương tự, các doanh nghiệp khác bình ổn giá cao su. Cụ thể, Công ty Cao su Bà Rịa báo giá thu mua mủ nước ở mức 415 đồng/độ TSC/kg (áp dụng cho độ TSC từ 25 đến dưới 30); mủ đông DRC (35 - 44%) ở mức 13.900 đồng/kg, mủ nguyên liệu 18.500 đồng/kg.
Tại Công ty MangYang, giá thu mua mủ nước ghi nhận khoảng 403-408 đồng/TSC (loại 2-loại 1), mủ đông tạp khoảng 368 – 419 đồng/DRC (loại 2-loại 1). Tương tự, Công ty Phú Riềng chào giá thu mua mủ tạp bình ổn ở mức 390 đồng/DRC, giá thu mua mủ nước 420 đồng/TSC.
